Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi Linh.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi Linh.. Hiển thị tất cả bài đăng

101 - NGƯỜI XUỐNG THÀNH GIÊ-RI-CÔ (Lu ca 10:30-37).


    Khi nói chuyện với  một thầy dạy luật, Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: “Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô.”  (Luca 10:30).
         Thành Giê ri cô ở đâu? Thành Giê ri cô là một thành phố  cách 9 km về phía Tây của sông Giô đanh và 11 km về phía Bắc của Biển Mặn. Thành phố nầy vào thời của Ðức Chúa Jêsus thì vua Hê rốt cho xây cất một lâu đài Nghỉ Lễ Mùa Ðông với những trang hoàng rực rỡ và thu lợi tức rất nhiều. Điều nầy khiến  chúng ta có thể nghĩ rằng Giê ri cô thời đó là một thành phố phồn vinh và chắc cũng có nhiều cuộc vui chơi tội lỗi ở đó.
         Quý con dân của Chúa còn nhớ khi Môi se qua đời, Ðức Chúa Trời chọn Giô suê dẫn tuyển dân của Ngài tiến vào Ðất Hứa Ca na an.  Giô suê đã hết lòng tin cậy Ðức Chúa Trời để bước vào đất hứa. Và dân sự Ðức Chúa Trời đã chiếm thành Giê ri cô trước nhất.
Sau khi chiếm thành Giê ri cô thì “…. Giô-suê phát thề rằng: Phàm ai chổi lên xây lại thành Giê-ri-cô này sẽ bị rủa sả trước mặt Ðức Giê-hô-va! Ðặt nền nó lại, tất con trưởng nam mình phải chết; dựng cửa nó lại, tất con út mình phải chết.”  (Giô suê 6:26). Chúng ta có thể nói rằng thành Giê ri cô là một thành đã bị rủa sả.
         Thành Giê ri cô, nếu tính đường chim bay thì cách thành Giê ru sa lem chừng hơn 20 km.
         Ðịa Trung Hải khoảng 50km về phía Ðông Thành Giê ru sa lem, và Biển Mặn khoảng 30 km phía Tây Nam Giê ru sa lem.
          Thành Giê ru sa lem là nơi Sa lô môn đã xây cất Ðền thờ của Ðức Chúa Trời, dân Y sơ ra ên đến đó thờ phượng Ngài. Tiên tri Ê sai nói về Giê ru sa lem như sau: “Hỡi Si ôn hãy thức dậy. Hãy thức dậy mặc lấy sức mạnh ngươi. Hỡi Giê ru sa lem là thành thánh, hãy mặc lấy áo đẹp! ” (Ê sai 52:1). Như vậy thành Giê ru sa lem Thành thánh của Ðức Chúa Trời.               
         Ðức Chúa Jêsus phán: “Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết.”     Vừa đọc xong câu Kinh thánh nầy, chúng ta thấy ngay là có một người bị nạn.
           Câu Kinh thánh nầy cho chúng ta những điều học hỏi. Ðó là,
         - Ông ta đi “xuống!”
        Ðời sống của người nầy đang đi xuống! Ông ta đang từ thàng Giê ru sa lem đi xuống thành Giê ri cô. Theo ý nghĩa của hai thành nầy thì nguời nầy đang đi từ nơi Thánh xuống nơi bị Rủa xả!
       - Ðời sống hiện tại của chúng ta thì sao?
Học điều nầy làm tôi suy nghĩ đến đời sống của Quý con dân của Chúa và chính mình tôi. Ðời sống của chúng ta có phải là đang đi xuống không?
Ðôi khi có những điều khiến chúng ta đi xuống. Làm một việc gì đó, không thành công, chúng ta xuống tinh thần. Thời tiết thay đổi, bị bịnh, chúng ta xuống sức khỏe. Chẳng may, công ty mình đang làm việc dời đi Tiểu Bang khác, chúng ta mất việc, tình hình tài chánh gia đình chúng ta xuống dốc v.v…. Những điều “đi xuống” kể trên, chúng ta không thích điều nào cả. Nhưng thật ra những điều nói trên chưa nguy hiểm bằng một điều “đi xuống” khác. Ðó là “đi xuống” niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus.
         Tại sao khi mình “đi xuống” niềm tin nơi Ðức Chúa Jêsus là một điều nguy hiểm? Vì điều quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta là “giữ vững niềm tin trong Danh Ba Nôi Đức Chúa Trời cho đến hơi thở cuối cùng” để được Chúa ban cho chúng ta mão triều thiên sự sống. Vì với đời sống nầy, dù  chúng ta có đạt được tất cả mọi sự vinh hoa phú quý, mà linh hồn của chúng ta bị hư mất thì có ích gì! Chính Đức Chúa Giê-xu đã dạy: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” (Mathiơ 16:26). Ðược sống vĩnh cửu với Ðức Chúa Jêsus trong Vương quốc của Ngài phải là mục đích tối hậu cho mỗi đời sống của chúng ta. Muốn được như vậy, mỗi chúng ta phải cẩn thận. Khi thấy mình bị “đi xuống” niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta phải mau tìm trở  lại với Chúa, qua Lời Chúa, qua những buổi nhóm thờ phượng Chúa ở nhà thờ và qua những thì giờ chúng ta cầu nguyện riêng tư với Chúa mỗi ngày tại nhà của chúng ta.
          Kinh thánh chép: Nạn nhân bị “giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết.”
         Câu Kinh thánh nầy, Ðức Chúa Jêsus mô tả hoàn cảnh của người bị lâm nạn. Chúng ta có thể nói rằng nạn nhân bị lâm vào hoàn cảnh tả tơi. Bao nhiêu của cải không còn, tất cả những gì quý giá đã mất. Kể cả sức khỏe cũng bị tiêu hao gần hết, chỉ còn lại những vết thương, máu me đầy người. Người còn sống, nhưng sự sống rất là yếu ớt!
-     Tại sao nạn nhân bị nặng nề thế?
-     Tại vì Ông ta đã đi từ nơi Thánh để đi xuống nơi bị Rủa sả!
-     Ai đã đối xử tàn nhẫn với ông ta như vậy?
-     Kẻ cướp!
-    Tại sao kẻ cướp đủ sức, đủ thì giờ hoành hành dữ dội vậy?
-    Tại vì kẻ cướp mạnh mẽ và người nầy đi trong địa phận của nó.
Hôm nay tôi xin bắt chước Ông Bà chúng ta để làm thơ lục bát rằng:                        
“Mấy đời bánh đúc có xương!
Mấy đời kẻ cướp mà thương bộ hành!”
           Với người tin Chúa Giê su nhưng có những bước “đi xuống” về niềm tin thì sẽ ra sao? Người đó sẽ bước vào những địa phận của Ma quỷ. Chắc chắn, nó sẽ lột hết những gì người nầy có, từ vật chất đến tinh thần. Vì “cướp giết và hủy diệt” (Giăng 10:10) là bản chất của Ma quỷ. Ðức Chúa Jêsus đã dạy chúng ta như vậy.
         Quý vị có bao giờ thấy Ma quỷ lấy hết tiền bạc vật chất của những người “đi xuống” bước vào giang sơn của nó chưa? Tôi đã gặp những bà vợ khóc lóc than van rằng chồng tôi đã thua hết tài sản rồi. Có những bà mẹ khóc lóc thở than rằng con trai tôi khỏe mạnh, nhưng nay bị nghiện-ngập cho đến nỗi sức lực tiêu tan, thân thể gầy mòn, tinh thần xuống dốc đến độ không còn gì nữa!
Cũng có những người thở than rằng thân nhân tôi không đi nhà thờ nữa, vì quá mê man tội lỗi. 
          Ðức Chúa Jêsus kể tiếp rằng: “Một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.” (Luca 10:31-32).
          Thầy Tế lễ là những người có chức phận trong Ðạo Do Thái. Họ là những người dẫn dắt dân sự của Chúa theo Chúa và thờ phượng Ngài. Thầy Tế lễ đi ngang nhìn thấy người bị nạn và đi qua khỏi.
          Người Lê vi là những người trong Chi phái Lê vi được biệt riêng ra để lo về những nghi thức thờ phượng Chúa trong Đền thờ. Người Lê vi thấy, đến gần người bị nạn, xem ra sao, rồi đi luôn.
           Sau đó:  “…. có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương;    bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.” (Luca 10:33-35).       
                Trong lớp dạy Kinh thánh cho các cháu thiếu nhi, Cô giáo dạy về câu chuyện Người Sa ma ri nhơn lành, Cô giáo hỏi:
-     Các em có đồng ý người Sa ma ri rất tử tế không?
-     Dạ có!
-     Các em đúng đó. Người Sa ma ri rất tử tế, Ông ta sẵn sàng giúp đỡ người khác, khi có cần.
-     Thưa cô em có thể gặp người Sa ma ri đó được không?
-     Em gặp chi vậy?
-     Ðể xin làm quen!
Trong chuyện người từ thành Giê ru sa lem, có Ðền thờ của Chúa đi xuống thành bị Rủa sả tên là Giê ri cô bị cướp đánh, thì Ðức Chúa Jêsus có đề cập thêm ba người khác. Ba người nầy đều thấy người bị nạn. Nhưng cách ứng xử của ba người khác nhau.
           Thầy Tế lễ và người Lê vi theo triết lý sống là: “Tôi không làm hại ai là tốt rồi, còn chuyện giúp người khác thì không phải bổn phận của tôi.”
         Trái lại người Sa ma ri theo triết lý sống khác, đó là: “Tôi không làm hại ai và tôi cố gắng giúp người khác trong khả năng để làm dịu đi sự khổ đau của người gặp cảnh khó khăn.”
        Ðây là cách sống của người sống đẹp lòng Chúa. Vì Đức Chúa Giê-xu dạy con dân của Ngài: “Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Mat 22:39).
          Người Sa ma ri nầy thấy người khác bị cảnh khổ thì sẵn sàng giúp đỡ hoàn cảnh đó. Người nầy sẵn lòng bỏ tiền của, bỏ thì giờ, bỏ công sức để lo cho người gặp cảnh có cần.
          Quý vị có xót xa khi thấy anh em chúng ta trong Chúa bị hoạn nạn  không? Quý vị có sẵn lòng giúp đỡ anh em trong Hội Thánh lúc có cần không?
Còn nếu Quý vị biết anh em của mình trong Hội Thánh gặp hoạn  nạn tâm linh, đang ở trong vòng kềm tỏa của Ma quỷ, Quý vị ngồi nhìn hay nhờ Chúa giúp đỡ họ? Anh em chúng ta trong Hội Thánh trước đây đi nhà thờ, tôn thờ Chúa với chúng ta, bây giờ họ tách khỏi vòng tay yêu thương của Chúa, khỏi nhà thờ của Chúa đã đi về đâu? Vắng bóng họ rồi, chúng ta có cầu nguyện cho họ, có gọi điện thoại thăm hỏi và nhờ cậy Chúa đỡ họ đứng lên, để họ tiếp tục theo Chúa không?
        Cầu xin Chúa giúp đỡ mỗi Quý vị và tôi biết nương nhờ sức Chúa không rời bỏ nơi Chúa ban phước là vòng tay yêu thương của Ngài mà đi đến nơi bị Rủa sả là nơi Ma quỷ đang hoành hành. Phi e rơ nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. “ (1 Phierơ 5:8). Cầu xin Chúa cũng cho mỗi chúng ta bởi lòng yêu Chúa,  khi thấy sự đi xuống của anh em thì thiết tha hết lòng giúp đỡ thăm viếng, cầu nguyện cho họ, xin Chúa Thánh Linh nâng đỡ họ đứng lên, để họ tiếp tục theo Ngài.     
Cầu xin Chúa dạy mỗi chúng ta biết sống theo thánh ý của Ngài. A-men.
Mục sư Trần Hữu Thành.



095 - ĐIỀU RĂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Xuất Ê díp tô ký 20:1-17).


         Khi Ðức Chúa Trời dẫn dân sự Ngài đến Núi Si-na-i, qua tôi tớ Ngài là Môi se, Ðức Chúa Trời ban cho dân Y sơ ra ên Mười điều răn để họ tuân giữ theo Thánh Ý Ngài.
         Bấy giờ Ðức Chúa Trời phán mọi Lời nầy rằng: “Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ.” (Xuất Ê díp tô ký 20:2). 
Ðức Chúa Trời tự giới thiệu cho dân Y sơ ra ên biết rằng chính Ngài là Ðức Chúa Trời của họ và do đó, họ là con dân của Ngài.
Vì họ là con dân của Chúa, nên Ngài yêu thương họ và chính Ngài đã “rút họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ.” Thật vậy, Dân Y sơ ra ên lúc đó đã làm nô lệ cho dân dân Ai cập đã hơn 400 năm. Cuộc đời nô lệ của họ quá nhiều gian nan, họ chịu quá nhiều khổ đau dưới sự hà khắc của người Ai-cập. Ðức Chúa Trời nhìn thấy tình trạng khổ cực nầy, vì thương họ, Ðức Chúa Trời đã đưa cánh tay quyền năng của Ngài ra để rút họ ra khỏi cảnh nô lệ. Bây giờ họ đến Núi Si-na-i tự do thờ phượng Chúa.
Học điều nầy, mỗi chúng ta phải so sánh lại chính mình với người Y sơ ra ên ngày xưa. Mỗi chúng ta vốn là một tội nhơn sống dưới ách nô lệ của tội lỗi. Chúng ta không làm nô lệ cho người khác, nhưng chúng ta lại làm nô lệ cho tội lỗi ở trong chính chúng ta. Ðúng như câu:
“Tứ sắc lâu mấy cũng ngồi, thèm điếu thuốc mưa rào cũng lội, nhớ miếng trầu, đường bùn sình mấy cũng đi mua!”
Khi sống dưới ách tội lỗi, chúng ta sợ đủ thứ. Cất nhà phải chọn ngày, xây lên phải chọn hướng. Con cái bị bịnh đem thầy pháp chữa vì sợ tà ma bắt. Cưới vợ gã chồng cho con phải chọn tuổi hạp hay không? Tình trạng nầy làm cho biết bao nam nữ yêu nhau nhưng phải khổ sở xa nhau vì gia đình cho là không hạp tuổi….
Cảm ơn Chúa, kể từ ngày Ðức Chúa Trời thương xót kêu gọi chúng ta trở lại tôn thờ Ngài, chúng ta thoát khỏi những tin dị đoan và nhờ Chúa giúp cho tránh được nhiều tội lỗi, chúng ta chẳng khác gì dân Y sơ ra ên được thoát cảnh nô lệ trong xứ Ai Cập.
      Khi Ðức Chúa Trời ban các điều răn cho con dân của Ngài, gồm có 4 điều dạy về sự liên hệ giữa loài  người đối với Ngài. Còn 6 điều răn còn lại là nói về sự liên hệ giữa loài người đối với loài người. Mười Ðiều răn nói chung là luật pháp của Ðức Chúa Trời, qua Môi se, Ngài ban cho con dân của Ngài tuân giữ.

1.- Ðiều răn thứ nhất:
“Trước mặt Ta, ngươi cho có các thần khác.” (Xuất 20:3).
Chánh trị nước Úc theo định chế Ðại Nghị. Trong Quốc Hội, Ông Lảnh tụ đối lập ngồi ngang trước mặt Ông Thủ Tướng.
Nhìn hình ảnh nầy chúng ta phải nhớ rằng khi chúng ta thờ thần nào khác là chúng ta để thần đó ngồi đối nghịch với Ðức Chúa Trời ở trước mặt Ngài.
     Chúng ta thử nghĩ nếu trong nhà chúng ta có Ðức Chúa Trời hiện diện và lại có một vị thần đối nghịch với Ðức Chúa Trời, thì Quý vị nghĩ nhà chúng ta, gia đình chúng ta sẽ ra sao? Có được phước không?

2.- Ðiều răn thứ hai:

a.- Chớ thờ hình tượng:
“Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình….  Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi, tức là Ðức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.” (Xuất Ê díp tô ký 20: 4-6).
        Một bức hình hay là một bức tượng của ai chỉ là hình ảnh của người đó chớ thật sự không phải là người đó. Cho nên nếu thờ hình của Chúa, thì không phải chúng ta thờ Chúa. Vì vậy mà Ðức Chúa Jesus dạy về sự thờ phượng Ðức Chúa Trời như sau: “Ðức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.” (Giăng 4:24).
        Học tới đây, tôi xin kêu gọi Quý con dân của Chúa nhớ cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam.  Vì hơn 80 triệu dân Việt Nam, chỉ có vài triệu người theo lời dạy của Chúa không thờ hình tượng mà thôi, còn lại trên 70 triệu người đang thờ hình tượng. Đây là điều rất đáng tiếc, mỗi con dân của Chúa phải cầu nguyện nhiều cho dân tộc chúng ta.

b.- Đức Chúa Trời "kỵ tà."
         Chúa phán rằng Ngài là “Ðức Chúa Trời  kỵ tà” (Xuất Ê díp tô ký 20:5) tức là Ngài kỵ thờ hình tượng.
         Kinh Thánh ghi lại Dân Y sơ ra ên “làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, …. cúng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra.” (Quan xét 3:7).  Nghĩa là khi dân Y sơ ra ên thờ hình tượng, Ðức Chúa Trời nói rằng họ làm điều ác. Trong thời Các Quan xét, khi dân Y sơ ra ên phạm tội như vậy, Ðức Chúa Trời cho kẻ thù của họ dấy lên chiến thắng họ, cho đến khi họ nhận tội, ăn năn với Chúa, Ngài mới giải cứu họ.

c.- Tham lam là thờ hình tượng:
        Chúng ta nên học điều nầy. Khi chúng ta tham lam thì Kinh Thánh nói rằng chúng ta thờ hình tượng: “…anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Ðấng Christ và nước Ðức Chúa Trời.” (Epheso 5:5).
        Trong việc trợ cấp của Chánh Phủ Úc, chúng ta rất dễ phạm tội tham lam, và tham lam thì bị Chúa kể là thờ hình tượng. Chúa kỵ, thật là mất phước  cho chúng ta.
Có anh chị kia là vợ chồng sống với nhau, nhưng họ khai với xã hội là họ độc thân. Cả hai người đều lãnh tiền trợ cấp cho người độc thân, như vậy tiền trợ cấp được cao. Gần đây họ khai với cơ quan xã hội là họ sống chung với nhau. Họ bị bớt tiền trợ cấp. Nhưng họ không dám tham lam nữa, vì họ sợ Chúa kể tham lam là thờ hình tượng. Hai người nầy bây giờ biết kính sợ Chúa, như vậy thì rất tốt.     

d.- Phạt con cháu đến ba bốn đời:
Cũng trong Ðiều răn 2, chúng ta vui mừng vì biết rằng Ðức Chúa Trời sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Chúa và giữ các điều răn của Chúa. Như vậy mỗi chúng ta nên kính sợ Chúa và dạy con cháu chúng ta yêu mến Chúa, không những chúng ta mà con cháu của chúng ta cũng được phước.
        Nhưng có lẽ chúng ta cũng thắc mắc, tại sao Chúa phạt đến 3, 4 đời những kẻ không kính sợ Ngài? Kinh Thánh dạy rằng: “Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.” (Exechien 18:4).  Nghĩa là tội ai làm thì người đó chịu, chớ không có việc cha làm con chịu. Nhưng trong thời đó, trong một gia đình có thể ở chung nhau đến ba bốn thế hệ. Nếu người Tộc trưởng phạm tội bị Chúa phạt thì chắc chắn cả ba bốn thế hệ con cháu của Ông ta bị ảnh hưởng.
               
3.- Ðiều răn thứ 3:
       “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Ðức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.” (Xuất Ê díp tô ký 20:7).
        Chúng ta nên biết rằng chúng ta tôn thờ Ông Trời, vì Ngài là Ðấng Tạo Hóa của chúng ta. Vì tôn kính Ngài nên chúng ta gọi Ngài là Ðức Chúa Trời. Cho nên khi chúng ta kêu Trời, phải cẩn thận. Có người thật sai quấy khi nói rằng: “Trời ơi, thằng con tôi ngu quá Trời!” Xin con dân của Chúa tránh kêu Trời hoặc nói đến Trời cách vô cớ. Chúng ta cũng phải tránh lợi dụng Danh Ðức Chúa Trời để kiếm tư lợi cho mình.

4.- Ðiều răn thứ 4:
        “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.” (Xuất Ê díp tô ký 20:8). Ðức Chúa Trời làm gương cho chúng ta, sau khi Chúa tạo dựng trời đất biển và muôn vật sáu ngày thì Ngày Thứ Bảy Ngài nghỉ. Và Ðức Chúa Trời dạy chúng ta phải biệt riêng ngày nghỉ là ngày thánh. Nghĩa là sau sáu ngày làm việc thì có một ngày chúng ta biệt riêng ra, để thờ phượng Ðức Chúa Trời.
         Có người hỏi là tại sao hôm nay chúng ta không nghỉ ngày Thứ Bảy mà lại nghỉ ngày Thứ Nhất, tức là ngày Chúa nhật để thờ phượng Chúa? Tại vì ,

  1. Ngày Thứ nhất là ngày Ðức Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại.
Kinh Thánh ghi lại là sau khi Ðức Chúa Jesus chết trên thập giá và thân xác Ngài được chôn trong mồ mả thì “….ngày thứ nhứt trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đương đóng lại, vì sự dân Giu-đa, Ðức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!” (Giăng  20:19).

  1. Ngày Thứ Nhất, Hội Thánh đầu tiên nhóm lại thờ phượng Chúa.
Sách Công vụ ghi lại là “Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nữa đêm,” (Công vụ 20: 7).
       Ðức Chúa Jesus sống lại ngày Chúa nhật và Hội Thánh đầu tiên nhóm lại thờ phượng Chúa vào ngày Chúa nhật. Vì hai lý do trên, Hội Thánh của Chúa ngày nay nghỉ ngày Chúa nhật để thờ phượng Chúa.
        Thật ra ngày nay chúng ta đang vâng giữ điều Ðức Chúa Trời dạy là chúng ta làm việc sáu ngày dành một ngày thờ phượng Chúa và nghỉ ngơi.
       Học về Mười Ðiều răn, tức là luật pháp Môi se, chúng ta nên nhớ rằng Luật pháp Môi se chỉ rõ cho chúng ta biết đâu là tốt đâu là tội, điều nào là đẹp lòng Ðức Chúa Trời, điều nào trái ý Ngài, chớ luật pháp không thể tha tội chúng ta và cũng không dẫn chúng ta vào Thiên đàng được. Vì: “…người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Ðức Chúa Jêsus Christ,…. vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp…” (Galati 2:16b).
       Cho nên, cám ơn Ðức Chúa Trời là Ðấng đã chuẩn bị cho chúng ta Con Ðường cứu rỗi bởi ân điển, qua sự chết đền tội của Ðức Chúa Giê su. A-men.
Mục sư Trần Hữu Thành.